
Show Notes
“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này
More from Tạp chí Việt Nam
Việt Nam đã tái khởi động 2 dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, đồng thời dự trù sau đó có thể sẽ tiến tới triển khai thêm các công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR). Chưa biết các dự án đó sẽ được hoàn thành đúng kỳ hạn hay không, nhưng có nguy cơ Việt Nam sẽ thiếu hụt nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu phát triển điện hạt nhân từ đầu những năm 2000, nhằm đa dạng hóa nguồn cung và đáp ứng nhu cầu điện trong dài hạn. Sau quá trình khảo sát, tỉnh Ninh Thuận (cũ) đã được lựa chọn để xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Năm 2009, Quốc Hội thông qua chủ trương đầu tư dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Tuy nhiên, đến năm 2016, dự án bị tạm dừng "do điều kiện chưa cho phép". Mãi đến năm 2024, Quốc Hội Việt Nam mới thông qua quyết định khởi động lại dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận. Mục tiêu đề ra là đưa hai nhà máy này vào hoạt động vào năm 2035. Trước mắt Việt Nam sẽ hợp tác với Nga để xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Ngày 23/3/2026, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà máy sẽ được xây dựng bằng công nghệ của Nga và được tài trợ bằng khoản vay từ Nga. Theo hãng thông tấn TASS, tại Diễn đàn Kinh tế phương Đông EEF 2026 (01-04/09/2026), giám đốc điều hành Tập đoàn Năng lượng Hạt nhân Nhà nước Nga Rosatom, ông Alexey Likhachev, cho biết công tác thi công hợp đồng xây dựng và vận hành Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 “đang được tiến hành khẩn trương.” Cụ thể, "công tác soạn thảo hợp đồng và đạt được các thỏa thuận ràng buộc pháp lý về tiến độ và cấu trúc dự án đang được tiến hành khẩn trương. Lò phản ứng thế hệ III+ VVER-1200 đã được chọn cho dự án". VVER*1200 là một lò phản ứng áp dụng công nghệ mới nhất của Nga, có công suất khoảng 1.200 Megawatt. Còn về dự án Ninh Thuận 2, sau khi Nhật Bản rút, chính phủ Việt Nam hiện đang xem xét chọn một đối tác công nghệ "phù hợp". Hàn Quốc (với tập đoàn KEPCO) là một trong những đối tác tiềm năng đã bày tỏ mong muốn và sẵn sàng hợp tác toàn diện trong các khâu từ xây dựng nhà máy, vận hành, bảo đảm an toàn, cho đến đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 09/10/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cho rằng Việt Nam không thể nào hoàn tất được dự án nhà máy điện hạt nhân vào thời điểm 2035 như dự kiến, vì từ đây đến đó chỉ còn 10 năm: "Kinh nghiệm từ những nước đã làm như Bangladesh, từ lúc động thổ, bắt đầu xây dựng trên công trường thì phải mất 7 năm sau may ra mới đưa nhà máy vào vận hành được. Bangladesh đã lùi lại kế hoạch vận hành bao nhiêu năm rồi, lần này định là vào tháng 12 năm nay, nhưng không biết có làm được hay không. Mà trước khi động thổ thì cần phải có một thời gian chuẩn bị nhiều, kể cả việc xét duyệt dự án thì phải mất mấy năm. Cho nên không thể nào năm 2035 mà xong được. Dự án nhà máy điện thứ hai thì Nhật đã rút lui rồi, bây giờ chắc là Hàn Quốc sẽ nhảy vào được thôi. Chưa có thông tin chính thức gì về chuyện này. Nhưng mà thực ra tôi nghĩ Việt Nam chỉ có thể xúc tiến một lúc một nhà máy thôi, sau đó từ từ tính sau, chứ nhân lực như thế này lấy đâu ra để mà làm nhiều được!" Một trong những vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay đó là đào tạo đủ nguồn nhân lực để vận hành các nhà máy điện hạt nhân một khi hoàn thành. Theo báo chí trong nước, trong cuộc họp báo của bộ Khoa Học và Công Nghệ tháng 9 vừa qua, ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, đã nhìn nhận: "Kế hoạch quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử đã được ban hành, có đặt ra nhiệm vụ về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc triển khai đến nay vẫn chưa thực sự hiệu quả. Một phần vì thiếu kinh phí, phần khác do chưa xác định được đầy đủ những nhiệm vụ cụ thể và nhu cầu đối với công nghệ hạt nhân ở các bộ, ngành khác." Theo thẩm định, một nhà máy điện hạt nhân có thể cần khoảng 1.000 người, trong đó phần lớn là nhân viên vận hành,
Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung giúp Việt Nam hưởng lợi từ chiến lược “Trung Quốc+1” của các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc cũng chuyển hoạt động kinh doanh sang Việt Nam để “lách” các biện pháp hạn chế xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc. Tính đến cuối tháng 09/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tại Việt Nam đạt 50,36 tỷ đô la, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là chiến lược ngoại giao đa chiều và tiếp cận đa hướng, “giữ thái độ cởi mở, duy trì hợp tác kinh tế với càng nhiều đối tác càng tốt”, theo nhận định của Ted Osius, nguyên đại sứ Mỹ tại Việt Nam, hiện là nhà đầu tư kiêm cố vấn tại thành phố Hồ Chí Minh, được Bloomberg trích dẫn ngày 11/07/2026. Trong chiến lược này, Việt Nam cố gắng duy trì cân bằng giữa hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc, đồng thời là hai đối thủ thương mại. Mỹ giữ vai trò quan trọng vì là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp thiết bị điện tử. Trong cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc, Việt Nam bị chỉ trích là “sân sau” cho hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ cao nhất trong số các đối tác thương mại của Washington, khiến Mỹ đe dọa áp thuế cao. Gần đây, sau chuyến công tác tới New York của chủ tịch nước Tô Lâm, Hà Nội thông báo hai bên sắp đạt được thỏa thuận về thuế. Trả lời Bloomberg, ông Tô Lâm cho biết Việt Nam cam kết mua thêm các mặt hàng công nghệ cao như máy bay để thu hẹp thâm hụt thương mại. Ông cho rằng “hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phù hợp với nhu cầu của Mỹ và không cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Hoa Kỳ”. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm chuẩn bị một vòng công du Âu – Mỹ Ngay sau đó, tổng thống Mỹ Donald Trump trải thảm đỏ, đón tiếp trọng thị chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Hai nước cũng gia hạn đình chiến thương mại. Liệu những dấu hiệu hòa hoãn này có lợi cho Hà Nội hay không ? Trả lời RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Vũ Khang, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, học giả thính giảng tại Khoa Chính trị học Đại học Boston tại Hoa Kỳ, nhận định Hà Nội chỉ có thể hưởng lợi khi mối quan hệ của hai đại cường Trung Quốc và Mỹ không quá hòa dịu cũng không quá đối đầu. RFI : Trong chuyến công du Mỹ từ ngày 23-25/09 của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tổng thống Donald Trump có nhiều cử chỉ hòa dịu. Nếu Washington và Bắc Kinh tiếp tục xu hướng hòa dịu, điều đó sẽ làm thay đổi bài toán cân bằng chiến lược của Hà Nội như thế nào ? Việt Nam sẽ có thêm dư địa hay là gặp nhiều thách thức hơn trong việc thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ ? Tiến sĩ Vũ Khang : Quan hệ Mỹ-Trung có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Nền tảng chính sách này dựa vào một trật tự thế giới mở, nơi mà các cường quốc tôn trọng quyền lợi của các nước nhỏ và luật pháp quốc tế. Việt Nam không muốn một lần nữa bị đẩy vào thế bị động nếu như Mỹ và Trung Quốc bắt tay nhau và chia nhỏ thế giới thành các khu vực ảnh hưởng riêng biệt hoặc là hai nước này nổ ra một xung đột và bắt buộc Việt Nam phải chọn phe. Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất khi mà quan hệ Mỹ-Trung không quá thân thiện hay là cũng không quá thù địch. Trong trường hợp này, Việt Nam có thể hưởng lợi từ chuyển dịch vốn và nhà máy từ Trung Quốc và vẫn có thể duy trì được quyền tiếp cận thị trường Mỹ. Đọc thêmViệt Nam cố giữ cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc Do vậy, việc Mỹ-Trung xoa dịu trong thời điểm áp lực thương chiến và địa-chính trị vấn đề Đài Loan đang ngày càng gia tăng sẽ giúp Việt Nam có thêm dư địa để giữ cả quan hệ với Trung Quốc và Mỹ ổn định. Và tất nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, việc hai nước này có mối quan hệ thân thiết với Hà Nội vẫn là điều ưu tiên trên hết. RFI : Tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm cũng có chuyến công tác New York từ ngày 20 đến 23/09. Chuyến đi của ông Tô Lâm có tạo ra được bước đột phá mới trong quan hệ Việt - Mỹ ? Vũ Khang : Chuyến đi của tổng bí thư-chủ tị
Hợp tác về công nghệ lượng tử giữa Việt Nam và Pháp, đặc biệt là với Khu đô thị khoa học công nghệ Paris-Saclay, đang trở thành trọng tâm trong quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Hà Nội và Paris, trong bối cảnh Việt Nam muốn đưa công nghệ lượng tử vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Công nghệ lượng tử được coi là một trong những trụ cột chiến lược quan trọng nhất của kỷ nguyên công nghệ mới, với tiềm năng tạo ra đột phá trong an ninh mạng, tài chính, y tế, năng lượng, vật liệu mới và trí tuệ nhân tạo (AI). Công nghệ lượng tử cũng mang ý nghĩa chiến lược đối với quốc phòng, an ninh, kinh tế số và năng lực cạnh tranh quốc gia. Do các tiềm năng to lớn đó, nhiều quốc gia như Pháp, Nga, Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản… đã đầu tư hàng tỷ đôla vào nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các nền tảng tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử và cảm biến lượng tử. Trong chuyến thăm chính thức nước Pháp ( 10 và 11/09/2026 ), khi gặp tổng thống Emmanuel Macron, tổng bí thư đảng Cộng sản kiêm chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm đã đề nghị Paris “hỗ trợ Việt Nam từng bước phát triển công nghệ lượng tử.” Trong chuyến đi này, ông Tô Lâm đã đến thăm Paris-Saclay là thung lũng công nghệ và khu đô thị khoa học hàng đầu của Pháp, cụ thể là đã đến thăm Ủy ban Năng lượng nguyên tử Pháp (CEA) và trung tâm nghiên cứu của tập đoàn công nghệ Thales, để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước về công nghệ. Khả năng hợp tác về công nghệ lượng tử đã được nêu lên trong cuộc gặp giữa lãnh đạo Việt Nam với các nhà khoa học gốc Việt làm việc tại Paris - Saclay, trong đó có giáo sư Lại Ngọc Điệp, hiện giảng dạy tại École Normale Supérieure Paris-Saclay, Đại học Paris-Saclay. Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại ngày 19/09/2029, giáo sư Lại Ngọc Điệp trước hết giải thích về tầm quan trọng của công nghệ lượng tử: “Công nghệ lượng tử những năm gần đây được nói rất nhiều ở các nước đã phát triển rồi và các nước như Việt Nam thì cũng bắt đầu phải nói đến, bởi vì công nghệ lượng tử là một cái gì đó rất mới, có những tính chất rất ưu việt so với các công nghệ “cổ điển”. Ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử dựa vào tính chất vật lý lượng tử nên thao tác tính toán sẽ nhanh hơn rất nhiều so với các máy tính cổ điển. Thực ra bản chất thì hiệu ứng lượng tử đã xuất hiện ở trong các công nghệ trước đây, như laser hay là các pin Mặt trời, v.v… Tuy vậy, các hiệu ứng đấy xảy ra ở trạng thái là một tập hợp nhiều hạt. Cho nên các hiệu ứng lượng tử đặc biệt thì lại không được sử dụng và quan sát được. Ngày nay, dựa trên công nghệ khoa học tiên tiến, người ta có thể thao tác các hạt vật chất ở cấp độ nhỏ nhất có thể. Ví dụ như người ta nói đến nguyên tử, hay nói đến một hạt electron, hay là ánh sáng thì người ta nói đến một hạt photon. Khi mà công nghệ cho phép thao tác ở một hạt cơ bản như vậy thì chúng ta sẽ khai thác được hiệu ứng lượng tử. Và như vậy chúng ta có thể tạo được các sản phẩm gọi là lượng tử, ví dụ như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử. Ở các nước phát triển, người ta đã có những nền tảng về mặt lý thuyết, cũng như là công nghệ cho phép họ thực hiện được các sản phẩm lượng tử như vậy, chẳng hạn như Pháp có rất nhiều người được giải Nobel về lượng tử, có rất nhiều phòng thí nghiệm. Cho nên, khoảng 10 năm trở lại đây thì họ đã có những start-up để đưa ra các sản phẩm lượng tử, như máy tính lượng tử hay truyền thông lượng tử. Máy tính lượng tử là một máy tính mà về mặt lý thuyết ưu việt so với máy tính cổ điển, tức là nó có thể giải quyết được các bài toán lớn mà máy tính cổ điển phải dùng đến cả 500 năm thì bây giờ máy tính năng tử nó sẽ cho cho phép giải quyết trong vòng vài phút hoặc vài giờ. Nhưng tính ưu việt đấy chỉ giải quyết các bài toán lớn, ví dụ như dự báo thời tiết, sản xuất thuốc, hay điều trị bệnh cần phải có một số lượng tính toán khổng lồ và cần một thời gian nhanh thì máy tính lượng tử sẽ phát huy được tính ưu việt. Về truyền thông thì chúng ta biết là ngày nay internet đã phát triển rất mạnh và có lẽ là
Úc và Việt Nam tăng cường hợp tác trong 3 lĩnh vực trọng điểm: Khai thác khoáng sản thiết yếu, công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi, xây dựng chuỗi cung ứng chip. Đây cũng là những nội dung chính trong kế hoạch 10 nhóm công nghệ chiến lược nhằm nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam. Úc nổi tiếng về công nghệ khai khoáng và vị thế cường quốc tầm trung, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hợp tác mà không chịu áp lực phải “chọn phe” giữa Mỹ và Trung Quốc. Tuyên bố chung về nâng cao sức chống chịu kinh tế và Tuyên bố tầm nhìn kết nối khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, được ký nhân chuyến công du Úc của tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm vào tháng 08/2026, mở ra “tiềm năng rất lớn”. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, nhận định hai tuyên bố trên “bao hàm yếu tố khai thác khoáng sản đất hiếm và chuyển giao công nghệ”. Khai thác khoáng sản thiết yếu Khoáng sản thiết yếu được đặc biệt chú trọng do nhu cầu chung gia tăng và Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số, công nghệ xanh. Nghị định ngày 02/07/2025 liên quan đến Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và Khoáng sản nêu rõ : “Khoáng sản chiến lược quan trọng gồm khoáng sản phóng xạ, đất hiếm và các khoáng sản thiết yếu khác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững và tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước”. (1) Việt Nam có trữ lượng lớn khoáng sản quý hiếm, đặc biệt trữ lượng đất hiếm đứng thứ 6 thế giới (3,5 triệu tấn), nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tuy nhiên, triển vọng đang mở ra khi Việt Nam và Úc thúc đẩy hợp tác “khai thác khoáng sản thiết yếu”. Đây là yếu tố đầu tiên trong “ba mảng hợp tác” song phương, theo giải thích của tiến sĩ Nguyễn Thế Phương : “Khai thác khoáng sản thiết yếu sẽ tập trung vào ba điểm. Trước tiên là đầu tư và chuyển giao công nghệ chế biến sâu. Hai nước sẽ cố gắng là đẩy mạnh thu hút các tập đoàn lớn của Úc trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản đầu tư vào Việt Nam trong các dự án thăm dò, khai thác, đặc biệt là chế biến sâu các khoáng sản tại Việt Nam thay vì Việt Nam chỉ xuất khẩu quặng thô. Thứ hai, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam xây dựng toàn bộ quá trình áp dụng các tiêu chuẩn mới và quá trình truy xuất nguồn gốc. Tại vì như chúng ta biết, lĩnh vực khai thác, cũng như xuất khẩu các loại khoáng sản, đặc biệt là đất hiếm trên thế giới, hiện giờ bây giờ là lĩnh vực cạnh tranh mà muốn tham gia vào toàn bộ quy trình này ở mức độ toàn cầu thì phải có tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc minh bạch. Do đó, Úc sẽ là nước hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng toàn bộ hệ thống quy chuẩn này, giúp cho Việt Nam có đủ điều kiện tham gia vào chuỗi công ứng công nghệ cao do Mỹ dẫn dắt. Đọc thêmBang giao Úc-Việt: 63 năm nhìn lại Điểm thứ ba là cả hai bên sẽ thiết lập cơ chế đối thoại cấp bộ trưởng về năng lượng khoáng sản. Cơ chế này sẽ triển khai định kỳ. Thông qua cơ chế này, hai bên mong muốn là sẽ gỡ bỏ các rào cản chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp hai bên kết nối và xây dựng chuỗi cung ứng khoáng sản tự chủ và minh bạch. Đây là điểm mà chưa nước nào có, mới chỉ có Úc và Việt Nam có. Đây là những vấn đề liên quan đến khoáng sản thiết yếu”. Đây là điểm được nêu trong “Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được công bố ngày 01/04/2023, với những nhiệm vụ trọng tâm : Đẩy mạnh điều tra, thăm dò, đánh giá, xác định trữ lượng và tài nguyên đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội ; cập nhật, đồng bộ quy hoạch và cơ sở dữ liệu ; tăng cường quản lý tài nguyên, cấp phép và kiểm soát hoạt động khai thác, bảo đảm khai thác tiết kiệm, hiệu quả ; phát triển công nghệ chế biến sâu, nâng cao giá trị khoáng sản, ứng dụng thiết bị hiện đại, tái chế, giảm chất thải, bảo vệ môi trường ; ưu tiên khoáng sản chiến lược ; bảo đảm nguồn nguyên liệu trong nước, an ninh quốc gia và phát triển bền vững. (2) Công nghệ bán dẫn và công nghệ mới nổi Mảng hợp tác thứ hai sẽ là công nghệ bán dẫn và c
Theo các số liệu chính thức, chỉ trong 8 tháng đầu năm nay (2026), Việt Nam đã tiếp đón gần 16 triệu du khách quốc tế, tăng 14,4 % so với cùng kỳ năm ngoái. Ngành du lịch Việt Nam còn có tham vọng sẽ tiếp đón tổng cộng 25 triệu du khách trong năm nay. Thế nhưng, khi trao đổi với RFI Việt ngữ, một số doanh nghiệp tham gia Hội chợ du lịch quốc tế IFTM Top Resa tại Paris ( 15-17/09/2026 ) đều than phiền là số khách của họ, ít ra là từ châu Âu, vẫn chưa tăng trở lại như trước đây, phần lớn là do tác động của chiến tranh Trung Đông. Trả lời RFI Việt ngữ tại hội chợ IFTM Top Resa, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, được thành lập năm 2019, chủ yếu phục cho du khách châu Âu ( Pháp,Ý, Tây Ban Nha, Bắc Âu…) , cho biết: “Con số của Nhà nước là con số ghi nhận khi nhập cảnh và xuất cảnh. Thực tế con số tại các doanh nghiệp thì có một sự sụt giảm, như tại công ty Asia Viva Travel. Chúng tôi có ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng vào khoảng tháng 2 và tháng 3, thậm chí là tháng 5, tháng 6. Tuy nhiên, từ cuối tháng 6 đến tháng 9/2026, chúng tôi đã ghi nhận sự sôi động trở lại của những giao dịch từ những đơn vị đã chốt đơn cho cuối năm nay và năm sau. Thẳng thắn mà nói thì vẫn còn những sụt giảm và vắng vẻ hơn. Khách có xu hướng sẽ chốt sát nút hơn so với trước đây. Trước đây họ có thể chốt từ 3 đến 6 tháng trước, nhưng bây giờ họ có thể chốt tháng trước, tháng sau. Thời gian họ quyết định sẽ sát hơn, tùy thuộc vào chuyến bay, rồi sẽ nhìn vào tình hình quốc tế xem có ổn định chưa thì họ mới quyết định có chốt đi hay không. Với khoảng 30, 40 nhân sự khối văn phòng, với các anh chị em hướng dẫn viên, hay những bà con làm ở tuyến điểm, hoặc là chèo đò, lái xe, tôi nghĩ rằng đó là một sự thách thức đối với cả tất cả chúng tôi. Bởi vì tính chất và số lượng tour giảm, thậm chí khách cũng chọn lựa những phương thức tiết kiệm hơn, hoặc là họ dùng AI để có thể tự liên hệ, dẫn đến sụt giảm về việc làm, sụt giảm về kinh doanh. Có thể họ hỏi rất là nhiều, nhưng tỷ lệ chốt đơn lại giảm. Đó là một trong những thách thức để chúng tôi duy trì và vận hành doanh nghiệp của chúng tôi. Về phần mình, ông Edouard Georges, chủ tịch công ty lữ hành Phoenix Voyages, giải thích: “Chiến tranh Iran đã tác động rõ rệt đến lượng khách đến Việt Nam: Các hãng hàng không vùng Vịnh đã tạm ngưng hoặc cắt giảm chuyến bay, dẫn đến việc lượng du khách châu Âu đến Việt Nam sụt giảm đáng kể. Mọi người cảm thấy lo lắng, bất an khi phải quá cảnh tại Doha, Dubai hay các thành phố khác ở vùng Vịnh để nối chuyến đến Việt Nam. Tình trạng sụt giảm lượng khách này đang ảnh hưởng đến toàn khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Cam Bốt và Thái Lan. Chúng tôi đã phải gánh chịu hậu quả từ tháng Hai hoặc tháng Ba. Đến nay, tình hình vẫn chưa thực sự khả quan hơn.Tôi nghĩ tình trạng này sẽ còn kéo dài thêm một thời gian nữa, mặc dù lịch bay đang dần ổn định và chúng tôi kỳ vọng sẽ sớm thấy lại tần suất hai hoặc ba chuyến mỗi ngày, thay vì chỉ một chuyến như hiện nay, đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn. Có hai yếu tố tác động ở đây, gồm bối cảnh quốc tế, nhưng cũng cần kể đến yếu tố giá cả. Giá vé máy bay đã tăng mạnh, dù là các chuyến bay thẳng của Vietnam Airlines, hay của các hãng như Singapore Airlines, Thai Airways hoặc Cathay Pacific. Giá vé rất cao, gần như tăng gấp đôi và tất nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, du khách không còn đủ khả năng chi trả cho những chuyến đi xa như vậy. Thay vào đó, họ chỉ đi du lịch trong phạm vi châu Âu hoặc khu vực Địa Trung Hải, như Maroc, Ai Cập hay Hy Lạp, những điểm đến vẫn phù hợp với ngân sách du lịch của họ, dù giá cả tại đó cũng đã tăng lên.” Tuy nhiên, cô Đào Thị Thùy Linh, giám đốc công ty Asia Viva Travel, tỏ vẻ tin tưởng Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với khách quốc tế: “Với những chính sách và với những nỗ lực từ chính phủ, từ những doanh nghiệp Việt Nam, hay với những sự kiện để quảng bá và phát triển hơn du lịch của Việt Nam đối với các đối tác trên toàn cầu có mặt tại Top Resa 2026, tôi rất